Những khó khăn trong việc thực hiện Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

15:26' 9/9/2013

Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh thực hiện kế hoạch giám sát theo yêu cầu của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội về nội dung “Tình hình thực hiện Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004(BVCSGDTE).

Vào tháng 7, 8/2013, Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh đã làm việc trực tiếp với một số địa phương trong tỉnh (huyện Hàm Thuận Nam, Đức Linh) và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội/ Ban Chỉ đạo Bảo vệ chăm sóc trẻ em tỉnh; đồng thời, thực hiện giám sát qua báo cáo của Ban Chỉ đạo Bảo vệ chăm sóc trẻ em các địa phương còn lại.
Theo số liệu thống kê, trẻ em từ 0 đến dưới 16 tuổi toàn tỉnh hiện có 330.979 em chiếm tỷ lệ 27,73%; số trẻ từ 0 đến dưới 6 tuổi là 114.061 em chiếm tỷ lệ 9,6%; trẻ em thuộc 10 nhóm có hoàn cảnh đặc biệt chiếm 5,63% dân số, trong nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thì có 3.049 trẻ em khuyết tật, tàn tật và 598 trẻ em mồ côi không nơi nương tựa.
Qua giám sát, Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh nhận thấy việc thực hiện Luật BVCSGDTE trên địa bàn tỉnh hiện nay còn gặp một số khó khăn, cụ thể như sau:
Về quản lý nhà nước đối với công tác trẻ em: Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền cơ sở chưa quan tâm đầy đủ nên công tác BVCSGDTE trong cộng đồng triển khai còn hạn chế, các mục tiêu vì trẻ em đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm nhưng việc đánh giá thực hiện chưa đi vào chiều sâu nên kết quả hoạt động BVCSTE chưa mang lại hiệu quả cao.Công tác kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo một số đơn vị chưa thường xuyên, liên tục, thiếu kiểm tra đôn đốc, chế độ thông tin báo cáo thực hiện chưa nghiêm. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em vừa thiếu, vừa yếu nên chưa đáp ứng được yêu cầu.
 Về công tác tuyên truyền: Hoạt động tuyên truyền Luật và các chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em triển khai còn rời rạc, hình thức chưa đa dạng, chưa thực hiện thường xuyên ở các vùng xa, vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ sở vật chất, trang thiết bị truyền thông ở cơ sở chậm được đầu tư, sửa chữa nâng cấp; tài liệu tuyên truyền các ấn phẩm, sản phẩm truyền thông còn hạn chế, các chương trình phát thanh, truyền hình về bảo vệ trẻ em chưa phong phú, kỹ năng truyền thông của đội ngũ cán bộ cộng tác viên còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu. Luật BVCSGDTE chưa thật sự được phổ biến sâu rộng đến mọi gia đình.
 Về bảo vệ trẻ em: Công tác ngăn chặn phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt còn hạn chế. Trẻ em vi phạm pháp luật ngày càng tăng và mức độ nghiêm trọng; độ tuổi trẻ em bị lạm dụng xâm hại tình dục ngày càng nhỏ, hành vi xâm hại có tính chất nghiêm trọng.Việc ngược đãi, xâm hại, bóc lột đối với trẻ em chưa được cộng đồng chủ động phát hiện sớm, cộng tác để xử lý, can thiệp trợ giúp trẻ em bị xâm hại còn chưa kịp thời và quy định xử phạt của luật pháp chưa đủ sức răn đe, nhiều trường hợp bỏ qua, không xử lý. Nhóm trẻ em có nguy cơ cao như trẻ em sống trong các gia đình có vấn đề xã hội như bố mẹ ly hôn, ly thân, người mắc tệ nạn xã hội, phạm pháp chưa được quan tâm, quản lý phòng ngừa và còn gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ phúc lợi xã hội.
Về giáo dục trẻ em: Chất lượng giáo dục có sự chênh lệch giữa thị xã, thành phố và nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc. Cơ sở vật chất nhà trường tuy được đầu tư mạnh nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu dạy và học, vẫn còn thiếu phòng chức năng, thí nghiệm thực hành, nhất là bậc học mầm non, việc tổ chức học bán trú, 2 buổi/ ngày, tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ vẫn còn nhiều hạn chế, nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng Đề án Phổ cập mầm non 5 tuổi vẫn còn khó khăn.Tình trạng trẻ em bỏ học giữa chừng vẫn còn, nhất là học sinh THCS; trẻ em nghiện games có xu hướng gia tăng. Nhiều gia đình chỉ chú trọng việc làm ăn kinh tế, ít dành thời gian để quan tâm đến con cái nên sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường trong công tác BVCSGDTE có lúc, có nơi chưa chặt chẽ.
Về chăm sóc trẻ em: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (cân nặng/tuổi) tuy có giảm nhưng vẫn còn cao ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Suy dinh dưỡng chiều cao/ tuổi phổ biến ở mức cao ( > 30%) đã ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất của trẻ em. Nguyên nhân là do người dân ở vùng sâu, vùng xa miền núi chưa ý thức đầy đủ về dinh dưỡng cho trẻ em, lối sống và phong tục tập quán còn lạc hậu, điều kiện kinh tế chưa cao nên ảnh hưởng đến dinh dưỡng cho trẻ.
Về cơ sở vật chất tổ chức vui chơi giải trí cho trẻ em: Cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động vui chơi, giải trí cho trẻ còn thiếu. Trẻ em ở vùng sâu ít được tiếp cận với các hoạt động vui chơi, giải trí. Tỷ lệ huyện thị xã, thành phố; xã, phường, thị trấn có điểm vui chơi, giải trí cho trẻ em đạt thấp, chưa đáp ứng những nhu cầu phát triển về tinh thần của trẻ em. Một số xã, phường không bố trí được quỹ đất nên chưa quy hoạch điểm xây dựng cơ sở vui chơi, giải trí cho trẻ em.
Về kinh phí cho hoạt động trẻ em: Kinh phí do ngân sách Nhà nước chi thực hiện can thiệp trợ giúp cho trẻ em là nạn nhân còn thấp, các mức chi trợ giúp không được quy định cụ thể, không đáp ứng được nhu cầu phục hồi, hoà nhập. Ngân sách địa phương không phân bổ kinh phí hoạt động quản lý nhà nước về trẻ em ở cấp huyện, xã nên hoạt động chăm sóc trẻ chỉ dừng lại ở dạng phong trào, thường chỉ diễn ra nhân các ngày lễ như Quốc tế thiếu nhi, Tết âm lịch, Tết Trung Thu, Tháng hành động vì trẻ em…

 

Mỹ Hảo